thang-may

Thang máy vẫn là sân chơi hàng ngoại

elevator - thang mayVào tháng 6.2010, Công ty Sông Đà Thăng Long đầu tư 20 triệu USD để lắp đặt hệ thống thang máy hiệu Mitsubishi (gồm 54 thang máy, 24 thang cuốn) cho tổ hợp trung tâm thương mại – chung cư cao cấp Usilk City tại Hà Nội. Ba tháng sau, công ty này chi thêm 7 triệu USD cho hệ thống vỏ bọc titan cả phía trong và ngoài hệ thống. Đây là lần đầu tiên một dự án bất động sản coi trọng việc đầu tư hệ thống thang máy.

 

Ngoại đủng đỉnh!
Khoảng 15 năm trước, thị trường thang máy Việt Nam đã bắt đầu hình thành và đến nay có hơn 100 công ty tham gia sản xuất, lắp ráp (trong nước lẫn liên doanh). Tuy nhiên chiếm phần nhiều là các nhãn hiệu nước ngoài như Mitsubishi, Hitachi, Nippon (Nhật); Sanei (Trung Quốc); Hyundai, Thyssen Dongyang (Hàn Quốc); Schindler (Thụy Sĩ); Otis (Mỹ).
Theo thống kê mới nhất của Bộ Xây dựng, hơn 70% loại thang máy nhập khẩu tại Việt Nam hiện nay không phải là nhãn hiệu nổi tiếng, giá trị không cao nhưng mẫu mã đẹp, vận hành êm và ổn định. Tuy nhiên, giá luôn cao gấp đôi so với sản phẩm Việt Nam, trung bình từ 40.000-50.000 USD/thang (sức chứa 10 người, 10 điểm dừng tức khoảng 10-12 tầng), có những bộ tới 100.000 USD, trong khi đó sản phẩm nội giá thành chỉ bằng một nửa . Sản phẩm được chuộng nhất là của Nhật và Hàn Quốc vì phù hợp với điều kiện khí hậu nóng, độ ẩm cao tại Việt Nam.
Ngoài thiết kế phù hợp, để thâm nhập thị trường Việt Nam, các nhãn hiệu thang máy nước ngoài đều đi theo cách tìm kiếm đối tác trong nước để kết hợp thế mạnh công nghệ – tài chính của mình với sự am hiểu thị trường bản địa của doanh nghiệp trong nước. Nếu như Otis, Schindler thực hiện liên doanh thì Mitsubishi lại chỉ định đại lý phân phối độc quyền. Theo họ, đó là cách để bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình không bị biến dạng, lấy được lòng tin của các nhà đầu tư.

thang may tai khach buildingỞ các khu nhà ít tầng, sản phẩm thang máy của Mitsubishi đặc biệt chiếm ưu thế nhờ hoạt động mạnh của đối tác tại Việt Nam, chiếm 40% thị trường và liên tục dẫn đầu. Otis và Schindler chưa khai thác được phân khúc này. Đây là thông tin do một chuyên gia thang máy trong nước (liên doanh với Mitsubishi), cho biết. Cũng theo chuyên gia này, thị trường thang máy Việt Nam quá nhỏ và ai có phân khúc của người ấy, sự cạnh tranh chưa đến mức gay cấn.
Tuy vậy, thang máy nhãn hiệu ngoại vẫn nhỉnh hơn. Do lĩnh vực xây dựng tại các thị trường truyền thống đang giảm nên họ đẩy mạnh sang lĩnh vực bảo trì và nâng cấp thiết bị mới. Để giữ chân ở mảng sản xuất, họ đã thâm nhập vào thị trường các nước đang phát triển, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, nơi Việt Nam đang được đánh giá là tiềm năng nhất, với 2 phân khúc nhà cao tầng (từ 15 tầng trở lên) và thấp tầng (từ 15 tầng trở xuống). Hơn nữa, lượng tiêu thụ dự tính sẽ tăng lên trong vài năm tới, 10.000-15.000 thang/năm, nhờ nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng và nhất là nhà cao tầng được xem là điểm nhấn trong quy hoạch đô thị ở Hà Nội. TP.HCM, Hải Phòng và Đà Nẵng.
Nội kỳ vọng
Trong một vài năm gần đây nhãn hiệu thang máy nội địa không xa lạ đối với giới đầu tư dự án bất động sản cả nước, kể cả nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà sản xuất trong nước đang kỳ vọng có thể nâng cao sản lượng, tiến tới xuất khẩu để quảng bá thương hiệu, cạnh tranh với hàng nhập.
Ngoài ra một số công ty thang máy nội địa đã lựa chọn mảng dịch vụ bảo trì, bảo hành (hầu hết các công ty này có nhà máy sản xuất tại TP.HCM, với số vốn đầu tư khoảng 5 tỉ đồng). Một chuyên gia trong lĩnh vực thang liên doanh cho biết riêng năm 2010, mảng này đã đem lại một lượng doanh thu lớn cho các công ty này, chiếm 60% tổng doanh thu.
Ông này còn cho rằng, tỉ lệ thang máy được lắp ráp tại Việt Nam hiện nay khoảng 65%, nếu tỉ lệ sản xuất nội địa lên tới 50% thì chắc chắn chất lượng sản phẩm sẽ có vấn đề. Lý do thứ nhất là ngành công nghiệp phụ trợ vẫn trong thời kỳ “nửa nạc nửa mỡ. Thứ 2 là dây chuyền sản xuất còn nhỏ và đã “quá đát” (phải đầu tư trung bình từ 30-50 tỉ đồng mới được một dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh). Thứ 3, phương pháp liên doanh để chờ sự chuyển giao công nghệ của công ty nước ngoài là rất khó, chỉ có thể kỳ vọng làm cho thị trường lớn dần lên, số lượng nhiều hơn thì mới mong có đầu tư mạnh. Hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam chỉ sản xuất được những phần đơn giản của thang máy như vỏ ca bin, cửa tầng, máy kéo, giắc cắm.
Do đó, vị chuyên gia này nhận định, lúc này doanh nghiệp nội chỉ nên tham gia lắp ráp, sản xuất phụ kiện cho nhà thấp tầng để có khả năng đảm bảo được yếu tố an toàn kỹ thuật cho công trình. Như vậy, sản phẩm thang máy Việt Nam mới có thể cạnh tranh ở mảng dịch vụ lắp đặt, sửa chữa, bảo trì, bảo hành, khắc phục sự cố.

(Nguồn: Sưu tầm)




Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời